Skip to main content

Itō Sukeyuki – Wikipedia tiếng Việt


Bá tước Itō Sukeyuki
Itoh Sukeyuki.jpg
Tiểu sử
Sinh
Kagoshima, lãnh địa Satsuma, Nhật Bản
Mất
Tokyo, Nhật Bản
Binh nghiệp
Phục vụ
Đế quốc Nhật Bản
Thuộc
Naval Ensign of Japan.svg Hải quân Đế quốc Nhật Bản
Năm tại ngũ
1871 -1907
Cấp bậc
Nguyên soái Hải Quân
Chỉ huy
Daiichi Teibo, Kasuga, Azuma, Nisshin, Ryūjō, Hiei, Fusō
Naniwa
Combined Fleet
Yokosuka Naval District
Chief of IJN General Staff
Tham chiến
Chiến tranh Anglo-Satsuma
Chiến tranh Boshin
Chiến tranh Thanh-Nhật
oBattle of the Yellow Sea
oBattle of Weihaiwei
Chiến tranh Nga-Nhật
Khen thưởng
Huân chương Cánh diều vàng (hạng 1)
Grand Cordon of the Supreme Huân chương Hoa Cúc

Itō Sukeyuki (伊東 祐亨 Itō Sukeyuki?, Y Đông Hựu Hanh) (, còn được biết đến là Itoh Yukō, 20/5/1843 - 16/1/1914) là một sĩ quan chuyên nghiệp của Hải quân Đế quốc Nhật Bản thời kỳ Minh Trị.





Sinh ra ở nơi giờ được gọi là thành phố Kagoshima, là con của một Samurai tại lãnh địa Satsuma, Itō đã từng học kĩ thuật hàng hải và đại bác, đã tham gia chiến tranh Anglo-Satsuma với tư cách là thành viên của hải quân lãnh địa Satsuma. Trước chiến tranh Boshin, Itō chuyển tới Edo và phát huy các kĩ năng hải quân trong các đội quân đang cố gắng lật đổ mạc phủ Tokugawa.


Tranh vẽ theo phong cách ukiyoe của Migita Toshihide miêu tả tướng Itō chấp nhận sự đầu hàng của quân đội Mãn Thanh sau trận chiến Weihaiwei tháng 11/1895

Sau cách mạng Minh Trị, Itō được phong làm đại úy hải quân (Kaigun Taii) và phục vụ trong tàu hộ tống Nisshin. Ông được thăng chức đại tá hải quân (Kaigun Taisa) năm 1882 và phục vụ trên rất nhiều tàu chiến của hạm đội hải quân đế quốc Nhật Bản trong những ngày đầu. Ngày 20 tháng 5 năm 1893 ông trở thành tư lệnh của đội tàu hải quân sẵn sàng.

Ngày 15 tháng 6 năm 1886, ông được thăng quân hàm chuẩn đô đốc (Kaigun Shosho) và sau đó là phó đô đốc (Kaigun Chusho) vào ngày 12 tháng 12 năm 1892.

Trong chiến tranh Trung - Nhật lần thứ nhất, ông trở thành tư lệnh đầu tiên của hạm đội hải quân phối hợp và đánh thắng một vài trận hải chiến trước hạm đội Beiyang (Bắc Dương) của Mãn Thanh do Thủy sư đề đốc Đinh Nhữ Xương (Ding Ruchang) chỉ huy.

Ngày 11 tháng 5 năm 1895, Itō trở thành tổng tham mưu trưởng hải quân đế quốc Nhật Bản. Năm 1898, ông được phong tước shishaku (tử tước) ngày 5 tháng 8 năm 1898 dưới trong cấp bậc quý tộc kazoku. Ông được phong quân hàm đô đốc (Kaigun Taisho) ngày 28 tháng 9 năm 1898.

Trong suốt chiến tranh Nga - Nhật, ông tiếp tục phục vụ với tư cách tổng tham mưu trưởng hải quân. Sau chiến tranh ông trở thành nguyên soái hải quân (Gensui Kaigun Taisho) ngày 31 tháng 1 năm 1905 và danh hiệu quý tộc của ông được nâng lên thành hakushaku (bá tước) năm 1907. Cùng thời gian, ông được nhận huân chương hải âu vàng hạng nhất (Order of the Golden Kite) cũng như dây kim tuyến cao quý của huân chương hoa cúc tối cao.

Itō bộc bạch rằng ông không có hứng thú với chuyện chính trị, nhưng sau đó ông được thừa nhận không chính thức là một trong những nguyên lão bởi người cùng thời.

Itō mất năm 1941. Mộ của ông nằm ở chùa Kaian, Shinagawa, Tokyo.



  • Nishida, Hiroshi. “Itoh Sukeyuki”. Imperial Japanese Navy. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2006. 








Comments

Popular posts from this blog

Roi da (chính trị) - Wikipedia

Một roi là một quan chức của một đảng chính trị có nhiệm vụ đảm bảo kỷ luật đảng trong một cơ quan lập pháp. Roi da là "thực thi" của đảng; họ mời các nhà lập pháp đồng bào của họ tham dự các phiên bỏ phiếu và bỏ phiếu theo chính sách của đảng chính thức. Thuật ngữ này được lấy từ "người đánh cá" trong một cuộc đi săn, người cố gắng ngăn những con chó săn đi lang thang khỏi bầy. Ngoài ra, thuật ngữ "roi da" có thể có nghĩa là các hướng dẫn bỏ phiếu được ban hành cho các thành viên bởi roi [1] hoặc trạng thái của một nhà lập pháp nhất định trong nhóm nghị sĩ của đảng họ. Từ nguyên [ chỉnh sửa ] Biểu thức roi trong bối cảnh nghị viện có nguồn gốc từ thuật ngữ săn bắn. Từ điển tiếng Anh Oxford định nghĩa thuật ngữ whipper-in là "trợ lý của thợ săn giữ chó săn không đi lạc bằng cách đưa chúng trở lại bằng roi vào cơ thể chính của gói". Theo từ điển đó, lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ whipper-in theo ...

1410 - Bếp + tắm Sourcebook

GE rỗng một chai tẩy rửa vào SmartDispense máy rửa chén andit sẽ phân phát ra số lượng cần thiết cho mỗi tải; từ $1.030. Julien & #8216; s UrbanEdge đảo top (2060), 16-gauge thép không gỉ, combinesa làm việc, lưu vực chìm, cống ban và ngăn kéo; $6,000. DCS bởi Fisher Tấm lưới chấn song của Paykel CT-304 30-inch thả khí bằng thép không rỉ bếp đun tính năng bề mặt liên tục cho dễ dàng trong dụng cụ nấu nướng cơ động; $1.000. Maax sử dụng công nghệ mới trong bồn tắm cuộc sống của nó: A Thermazone nước nóng backrest và một hệ thống vệ sinh con dấu ra khỏi máy bay từ nước xà phòng; $4,000. Bulthaup thêm vào một quầy 2/5-inch-quartz-and-synthetic-stone thì không thể mỏng thành dòng toits b3 phổ biến nhà bếp, một hệ thống treo tạo ra những ảo ảnh của nổi tủ. Bất chấp trọng lực, kiểu dáng đẹp siêu mảnh này dựa trên ẩn không gỉ thép xây dựng để được hỗ trợ. Liên hệ với một đại lý để biết giá. Bể sục khung những dòng tinh khiết của nó sục Fuzion với tấm gỗ tếch hoặc wenge (Hiển thị ở ...

Georg Amadeus Carl Friedrich Naumann

Georg Amadeus Carl Friedrich Naumann. Miệng núi lửa Naumann trên Mặt trăng được đặt theo tên ông. Naumann sinh ra tại Dresden, con trai của một nhạc sĩ và nhà soạn nhạc nổi tiếng. Anh ta được giáo dục sớm tại Pforta, học tại Freiberg dưới thời Werner, và sau đó tại Leipzig và Jena. Ông tốt nghiệp tại Jena, và được giảng dạy vào năm 1823 tại thị trấn đó và năm 1824 tại Leipzig. Năm 1826, ông kế nhiệm Mohs với tư cách là giáo sư về tinh thể học, năm 1835, ông trở thành giáo sư về nhận thức địa lý tại Freiberg; và vào năm 1842, ông được bổ nhiệm làm giáo sư về khoáng vật học và nhận thức địa lý tại Đại học Leipzig. Tại Freiberg, ông được giao nhiệm vụ chuẩn bị một bản đồ địa chất của Sachsen, nơi ông đã thực hiện với sự trợ giúp của Bernhard von Cotta vào năm 1846. Naumann là một người có kiến ​​thức bách khoa, sáng suốt và thông thạo như một giáo viên. Đầu đời (1821-1822), ông đi du lịch ở Na Uy, và những quan sát của ông về đất nước đó, và các ấn phẩm tiếp theo về tinh thể học, k...